BUTOCOX 750mg hộp 30 viên Agimexpharm

Thành phần: Mỗi viên nén bao phim chứa: Nabumeton. . . . . . . . . . . . . . . . . . . 750 mg Quy cách đóng gói: Hộp 3 vỉ x 10 viên nén bao phim.
Nhà cung cấp: Agimexpharm
khả dụng: Trong kho
SKU: TETC00132
177.000 đ

Chỉ định:

Điều trị triệu chứng giảm đau do thoái hóa khớp và viêm khớp dạng thấp.

Cách dùng, liều dùng:

Cách dùng:

Thuốc được uống trong bữa ăn hoặc sau khi ăn. Uống với nhiều nước. Thuốc được nuốt nguyên viên, không được nhai, bẻ, nghiền nát hòa vào nước trước khi uống.

Liều dùng:

Thận trọng cân nhắc các lợi ích tiềm ẩn và nguy cơ của nabumeton và các lựa chọn điều trị khác trước khi quyết định sử dụng nabumeton.

Sử dụng liều thấp nhất có hiệu quả trong thời gian ngắn nhất có thể phù hợp với mục tiêu điều trị của từng bệnh nhân. Liều dùng được điều chỉnh để đáp ứng yêu cầu của từng bệnh nhân.

Liều bắt đầu khuyến cáo là 1 liều duy nhất 1000 mg không quan tâm đến bữa ăn.

Trong trường hợp bệnh nhân cần liều cao hơn để có hiệu quả điều trị, liều dùng có thể từ 1500 mg đến 2000 mg/ngày, uống 1 lần duy nhất hoặc chia thành 2 lần/ngày.

Liều dùng cao hơn 2000 mg chưa được nghiên cứu.

Bệnh nhân có cân nặng < 50 kg: Không dùng liều quá 1000 mg.

Bệnh nhân suy thận:

+ Không cần điều chỉnh liều đối với bệnh nhân suy thận nhẹ (Clcr ≥ 50 ml/min).

+ Thận trọng khi dùng thuốc cho bệnh nhân suy thận vừa và nghiêm trọng. Liều bắt đầu đối với bệnh nhân suy thận vừa không được vượt quá 750 mg và suy thận nặng không quá 500 mg. Theo dõi chức năng thận của các bệnh nhân này, liều hàng ngày có thể tăng lên tối đa là 1500 mg và 1000 mg, lần lượt đối với từng đối tượng.

Người già:

Nói chung không có sự khác biệt giữa hiệu quả và an toàn ở nhóm đối tượng này so với nhóm trẻ hơn. Tuy nhiên, nồng độ thuốc trong máu thường cao hơn ở bệnh nhân cao tuổi (≥ 65 tuổi), không nên vượt quá liều khuyến cáo 1g/ngày ở nhóm đối tượng này. Trong một số trường hợp liều 500 mg có thể đạt hiệu quả.

Trẻ em:

An toàn và hiệu quả của nabumeton đối với trẻ em chưa được thiết lập.

Một số lưu ý đặc biệt về xử lý thuốc trước và sau khi sử dụng thuốc:

Không có yêu cầu đặc biệt về xử lý thuốc sau khi sử dụng.

Chống chỉ định:

Mẫn cảm với nabumeton hay bất cứ thành phần nào của thuốc.

Bệnh nhân nhạy cảm với aspirin và các thuốc kháng viêm không steroid khác: Bệnh nhân có dấu hiệu hen, polyp mũi, phù mạch hay nổi mề đay sau khi dùng aspirin và các thuốc kháng viêm không steroid khác.

Bệnh nhân loét dạ dày-tá tràng tiến triển.

Bệnh nhân suy gan nặng, suy tim nặng.

Không dùng ngay trước hoặc sau khi phẫu thuật bắc cầu động mạch vành (CABG).

Bệnh nhân suy thận nặng (Clcr < 30 ml/phút).

Trẻ em dưới 15 tuổi do chưa có nghiên cứu đầy đủ về dùng nabumeton cho trẻ em.

Bệnh nhân có tiền sử loét, chảy máu dạ dày.

Bệnh nhân có tiền sử chảy máu dạ dày do NSAID.

Phụ nữ có thai trong ba tháng cuối thai kỳ và phụ nữ cho con bú.

Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc:

Tác dụng không mong muốn có thể được giảm thiểu bằng cách sử dụng liều thấp nhất có hiệu quả trong thời gian ngắn nhất cần thiết để kiểm soát các triệu chứng.

Nên tránh sử dụng đồng thời nabumeton với các NSAID, bao gồm các chất ức chế chọn lọc cyclooxygenase-2.

Nguy cơ huyết khối tim mạch:

Các thuốc chống viêm không steroid (NSAID), không phải aspirin, dùng đường toàn thân, có thể làm tăng nguy cơ xuất hiện biến cố huyết khối tim mạch, bao gồm cả nhồi máu cơ tim và đột quỵ, có thể dẫn đến tử vong. Nguy cơ này có thể xuất hiện sớm trong vài tuần đầu dùng thuốc và có thể tăng lên theo thời gian dùng thuốc. Nguy cơ huyết khối tim mạch được ghi nhận chủ yếu ở liều cao.

Bác sỹ cần đánh giá định kỳ sự xuất hiện của các biến cố tim mạch, ngay cả khi bệnh nhân không có các triệu chứng tim mạch trước đó. Bệnh nhân cần được cảnh báo về các triệu chứng của biến cố tim mạch nghiêm trọng và cần thăm khám bác sỹ ngay khi xuất hiện các triệu chứng này.

Để giảm thiểu nguy cơ xuất hiện biến cố bất lợi, cần sử dụng nabumeton ở liều hàng ngày thấp nhất có hiệu quả trong thời gian ngắn nhất có thể.

Bệnh nhân tăng huyết áp không được kiểm soát, suy tim sung huyết, bệnh tim thiếu máu cục bộ, bệnh động mạch và/hoặc bệnh mạch não chỉ được điều trị với nabumeton sau khi xem xét cẩn thận. Cần thực hiện cân nhắc tương tự trước khi bắt đầu điều trị dài hạn đối với bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ mắc bệnh tim mạch (ví dụ tăng huyết áp, tăng lipid máu, đái tháo đường, hút thuốc lá).

Người cao tuổi:

Người cao tuổi có tần suất gặp phản ứng bất lợi với NSAID cao đặc biệt là xuất huyết hoặc thủng đường tiêu hóa có thể gây tử vong.

Rối loạn hô hấp:

Cần thận trọng khi dùng nabumeton cho bệnh nhân đang bị, hoặc có tiền sử trước đó, bệnh hen phế quản vì đã có báo cáo cho thấy các thuốc NSAID làm co thắt phế quản nặng hơn ở những bệnh nhân này.

Suy gan, thận tim mạch:

Việc sử dụng thuốc NSAID có thể làm giảm sự hình thành prostaglandin phụ thuộc liều và làm suy thận nặng thêm. Những bệnh nhân có nguy cơ cao nhất của phản ứng này là những người bị suy giảm chức năng thận, suy tim, rối loạn chức năng gan, những người đang dùng thuốc lợi tiểu và người cao tuổi. Ở những bệnh nhân suy thận nặng (độ thanh thải creatinin dưới 30 ml/phút), các xét nghiệm cần được thực hiện lúc bắt đầu và trong một vài tuần sau khi bắt đầu điều trị. Các xét nghiệm tiếp theo cần được tiến hành khi cần thiết; nếu sự suy giảm trở nên nặng hơn, phải ngưng điều trị. Trường hợp suy thận trung bình (độ thanh thải creatinin từ 30 đến 49 ml/lần) nồng độ 6 MNA không gắn kết với huyết tương tăng 50% và có thể cần phải giảm liều.

Cũng như các thuốc NSAID khác, đã có báo cáo về các xét nghiệm chức năng gan bất thường, các trường hợp vàng da và suy gan hiếm gặp (một số dẫn đến tử vong). Bệnh nhân có dấu hiệu/triệu chứng gợi ý tình trạng rối loạn chức năng gan hoặc những người đã có xét nghiệm chức năng gan bất thường trong khi điều trị với nabumeton nên được đánh giá về bằng chứng của phản ứng trên gan nghiêm trọng hơn. Ngưng sử dụng nabumeton nếu phản ứng xảy ra.

Xuất huyết, loét và thủng tiêu hóa:

Xuất huyết, loét hoặc thủng tiêu hóa, có thể gây tử vong, đã được báo cáo với tất cả các thuốc chống viêm không steroid và có thể xảy ra bất cứ lúc nào trong quá trình điều trị, có hoặc không có triệu chứng cảnh báo hoặc tiền sử biến cố tiêu hóa nghiêm trọng.

Bệnh nhân có tiền sử bệnh đường tiêu hóa, đường ruột, đặc biệt người cao tuổi, nên báo cáo bất kỳ triệu chứng vùng bụng bất thường nào (đặc biệt là xuất huyết đường tiêu hóa) đặc biệt trong những giai đoạn đầu điều trị.

Nguy cơ xuất huyết, loét hoặc thủng tiêu hóa cao hơn khi tăng liều thuốc kháng viêm không steroid, ở những bệnh nhân có tiền sử loét, đặc biệt nếu có biến chứng chảy máu hoặc thủng, và ở người cao tuổi. Những bệnh nhân này nên bắt đầu điều trị với liều thấp nhất sẵn có.

Liệu pháp phối hợp với các thuốc bảo vệ (ví dụ như misoprostol hoặc thuốc ức chế bơm proton) cần được xem xét đối với những bệnh nhân này, và cũng với các bệnh nhân cần dùng đồng thời aspirin liều thấp, hoặc các thuốc khác có thể làm tăng nguy cơ đường tiêu hóa.

Cần thận trọng khi dùng thuốc cho bệnh nhân đang dùng đồng thời thuốc có thể làm tăng nguy cơ loét hoặc xuất huyết, như các thuốc uống corticosteroid, thuốc chống đông máu như warfarin, các NSAID, các chất ức chế tái hấp thu serotonin chọn lọc hoặc các chất chống tiểu cầu như aspirin và clopidogrel. Khi xuất huyết tiêu hoá hoặc loét xảy ra ở bệnh nhân dùng nabumeton, phải ngưng điều trị.

Các NSAID có thể dùng thận trọng cho bệnh nhân có tiền sử bệnh tiêu hóa (viêm loét đại tràng, bệnh Crohn’s) vì các tình trạng này có thể nghiêm trọng hơn.

Đối với bệnh nhân bị loét dạ dày tiến triển, bác sỹ cần cân nhắc lợi ích của việc điều trị với nabumeton so với những nguy cơ có thể xảy ra, thiết lập chế độ điều trị loét phù hợp và theo dõi cẩn thận tiến triển của bệnh nhân.

Nabumeton được dung nạp tốt hơn hầu hết các NSAID khác, chủ yếu vì có ít tác động lên hệ tiêu hóa. Khi xem xét dữ liệu từ các thử nghiệm lâm sàng của nabumeton trước và sau khi đăng ký, tần suất tích lũy trung bình của thủng, loét hoặc chảy máu tiêu hóa (PUB) ở bệnh nhân được điều trị từ 3 đến 6 tháng, 1 năm và 2 năm lần lượt là 0,3%, 0,5% và 0,8%; mặc dù những con số này thấp hơn so với số liệu của các thuốc NSAID khác, bác sỹ kê toa cần biết rằng các ADR này có thể xảy ra ngay cả khi không có bệnh lý đường tiêu hóa trước đó.

Mặc dù nabumeton tương đối an toàn đối với đường tiêu hóa và thận, nên thận trọng khi dùng thuốc cho bệnh nhân có:

Loét đường tiêu hóa trên tiến triển. Điều trị phù hợp cần được thực hiện trước khi đều trị với nabumeton.

Hen suyễn, mày đay hoặc các phản ứng kiểu dị ứng trước đây do aspirin hoặc các thuốc NSAID khác gây ra. Bởi vì các cơn hen gây tử vong đã được báo cáo ở những bệnh nhân như vậy dùng các thuốc NSAID khác, lần đầu sử dụng nabumeton nên được y tế theo dõi.

Lupus ban đỏ hệ thống và bệnh mô liên kết hỗn hợp:

Đối với người có bệnh lupus ban đỏ hệ thống (SLE) và rối loạn mô liên kết hỗn hợp, có thể có nguy cơ tăng viêm màng não vô trùng.

Phản ứng trên da:

Các phản ứng da nghiêm trọng, một số rất hiếm trong đó gây tử vong, bao gồm viêm da tróc vảy, hội chứng Stevens-Johnson và hoại tử biểu bì nhiễm độc, đã được báo cáo khi kết hợp với việc sử dụng các NSAID. Bệnh nhân dường như có nguy cơ cao nhất đối với những phản ứng này trong thời gian mới điều trị; trong phần lớn các trường hợp, sự khởi phát của phản ứng xảy ra vào tháng điều trị đầu tiên. Nabumeton nên được ngưng sử dụng ở lần xuất hiện đầu tiên của ban da, tổn thương niêm mạc, hoặc bất kỳ dấu hiệu quá mẫn nào.

Suy giảm khả năng sinh sản ở nữ giới:

Việc sử dụng nabumeton hoặc các thuốc chống viêm không steroid khác có thể làm giảm khả năng sinh sản của phụ nữ và không được khuyến cáo ở phụ nữ cố gắng để thụ thai. Ở phụ nữ gặp khó khăn trong việc thụ thai hoặc người đang theo dõi tình trạng vô sinh, nên xem xét ngưng sử dụng nabumeton.

Các NSAID có thể che dấu bệnh nhiễm khuẩn.

Các trường hợp mờ mắt hoặc giảm thị lực được báo cáo với việc sử dụng NSAID, bao gồm nabumeton. Bệnh nhân có biểu hiện các bệnh lý này phải được gởi đi kiểm tra mắt.

Thuốc này có chứa phẩm màu sunset yellow lake có thể gây ra các phản ứng dị ứng. Cần thận trọng khi sử dụng thuốc cho bệnh nhân dị ứng với phẩm màu.

Sử dụng thuốc cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Thời kỳ có thai:

Không có kinh nghiệm lâm sàng trong việc sử dụng nabumeton trong thời kỳ mang thai ở người.

Thuốc không gây quái thai trong các thử nghiệm trên động vật. Ở thỏ, liều 300 mg/kg gây độc tính cho thỏ mẹ và phôi thai. Ở chuột, liều 320 mg/kg làm trì hoãn quá trình phân chia (do ức chế tổng hợp prostaglandin).

Đã có báo cáo về dị tật bẩm sinh do sử dụng NSAID ở người, tuy nhiên có tần suất thấp và không tuân theo mô hình rõ ràng nào. Do có nguy cơ đóng ống động mạch, biến đổi phổi và tim, nên NSAID chống chỉ định trong ba tháng cuối thai kỳ. Chuyển dạ có thể khởi phát chậm và kéo dài kèm theo khả năng chảy máu tăng cao. NSAID cũng không nên sử dụng trong tam cá nguyệt thứ nhất và thứ hai của thai kỳ trừ khi lợi ích cho người mẹ lớn hơn nguy cơ đối với thai nhi, nên điều trị với liều thấp và thời gian càng ngắn càng tốt.

Sự ức chế tổng hợp prostaglandin có thể ảnh hưởng xấu đến thai kỳ và/hoặc sự phát triển của phôi thai/thai nhi. Các nghiên cứu dịch tễ học cho thấy nguy cơ sảy thai, dị dạng tim và viêm dạ dày ở thai nhi tăng lên khi sử dụng chất ức chế tổng hợp prostaglandin trong giai đoạn đầu thai kỳ. Xác suất tuyệt đối cho nguy cơ dị tật tim tăng từ dưới 1% lên xấp xỉ 1,5%, tăng theo liều lượng và thời gian điều trị.

Trong ba tháng cuối của thai kỳ, các chất ức chế tổng hợp prostaglandin có thể khiến cho thai nhi bị:

– Độc tính tim-phổi: Đóng ống động mạch sớm và tăng huyết áp phổi.

– Rối loạn chức năng thận, có thể tiến triển suy thận kèm thiểu ối.

Bà mẹ và thai nhi vào cuối thai kỳ có thể bị:

– Kéo dài thời gian chảy máu do tác dụng chống kết tập mặc dù liều dùng rất thấp.

– Ức chế co thắt tử cung dẫn đến trì hoãn hoặc kéo dài quá trình chuyển dạ.

Phụ nữ có khả năng mang thai hoặc đang sử dụng các biện pháp tránh thai nên tham khảo ý kiến bác sỹ cẩn thận trước khi điều trị với thuốc này.

Thời kỳ cho con bú:

Không có kinh nghiệm lâm sàng trong việc sử dụng nabumeton trong thời kỳ cho con bú ở người.

Chất chuyển hóa có hoạt tính của nabumeton được tìm thấy trong sữa động vật cho con bú. Tính an toàn của nabumeton khi sử dụng trong thời gian cho con bú ở người chưa được biết rõ, do đó không nên sử dụng.

Cho đến nay, trong các nghiên cứu còn hạn chế, NSAID có thể xuất hiện trong sữa mẹ ở nồng độ rất thấp, do đó nếu có thể, không nên sử dụng NSAID trong thời kỳ cho con bú.

6MNA được tiết trong sữa của chuột cho con bú. Do nguy cơ xảy ra các phản ứng có hại nghiêm trọng ở trẻ bú mẹ, cần cân nhắc giữa việc ngừng cho con bú hay ngừng thuốc, phụ thuộc vào mức độ quan trọng của thuốc đối với người mẹ.

Ảnh hưởng của thuốc lên khả năng lái xe, vận hành máy móc:

Thuốc có thể gây chóng mặt, nhức đầu, ảo giác nên ảnh hưởng đến khả năng lái xe và vận hành máy móc.

Tương tác, tương kỵ của thuốc:

Tương tác của thuốc với các thuốc khác và các loại tương tác khác:

Các thuốc giảm đau khác bao gồm thuốc ức chế chọn lọc cyclooxygenase-2: Tránh sử dụng đồng thời hai hoặc nhiều hơn các NSAID (kể cả aspirin) vì có thể làm tăng nguy cơ tác dụng bất lợi.

Thuốc lợi tiểu và các thuốc hạ huyết áp khác như thuốc ức chế men chuyển angiotensin (ACEI) và các thuốc đối kháng thụ thể angiotensin (ARA) có thể giảm tác dụng khi dùng đồng thời với NSAID; ở một số người (như người già hoặc bị mất nước) điều này có thể làm giảm chức năng thận và cuối cùng là suy thận cấp. Do đó, cần phải bù nước và theo dõi thường xuyên các bệnh nhân này. Tình trạng tăng kali trong máu có thể nhiều hơn, đặc biệt khi sử dụng đồng thời các thuốc lợi tiểu giữ kali.

Các thuốc sau đây thường không có ảnh hưởng đến sự chuyển hóa và sinh khả dụng của nabumeton: Paracetamol, acetylsalicylic acid (ASA), cimetidin, các thuốc kháng acid có chứa hydroxyd nhôm.

Các glycosid tim: NSAID có thể làm suy tim trầm trọng thêm, giảm độ lọc cầu thận (GFR) và tăng nồng độ glycosid trong huyết tương.

Lithi: Giảm đào thải lithi.

Methotrexat: Giảm đào thải methotrexat.

Ciclosporin: Tăng nguy cơ độc tính trên thận.

Mifepriston: Không nên dùng NSAID trong khoảng 8 – 12 ngày sau khi dùng mifepriston vì các NSAID có thể làm giảm tác dụng của mifepriston.

Corticosteroid: Tăng nguy cơ loét và xuất huyết tiêu hóa.

Các thuốc kháng đông: Các NSAID có thể tăng cường tác dụng của thuốc kháng đông, như warfarin; cần thận trọng khi sử dụng đồng thời với nabumeton và các dấu hiệu quá liều phải được theo dõi.

Kháng sinh nhóm quinolon: Dữ liệu từ động vật cho thấy các NSAID có thể làm tăng nguy cơ co giật liên quan đến kháng sinh nhóm quinolon. Bệnh nhân dùng NSAID và quinolon có thể có tăng nguy cơ bị co giật.

Các thuốc kháng tiểu cầu và ức chế tái hấp thu chọn lọc serotonin (SSRI): Tăng nguy cơ xuất huyết tiêu hóa.

Tacrolimus: Có thể tăng nguy cơ độc tính trên thận khi dùng cùng lúc các NSAID và tacrolimus.

Zidovudin: Tăng nguy cơ độc tính huyết học khi dùng NSAID cùng lúc với zidovudin. Có bằng chứng về nguy cơ tăng tụ huyết khớp và khối tụ máu ở bệnh nhân bị bệnh huyết hữu có HIV (+) được điều trị đồng thời zidovudin và ibuprofen.

Sử dụng đồng thời nabumeton với các thuốc gắn kết với protein khác, ví dụ: Các sulphonamid, sulphylurea hoặc hydantoin phải được sử dụng thận trọng và cần theo dõi cẩn thận các dấu hiệu quá liều.

Không có nghiên cứu tương tác cụ thể nào giữa nabumeton và các thuốc trên được thực hiện. Vì vậy, cần thận trọng khi điều trị cùng lúc với các thuốc được liệt kê ở trên.

Tương kỵ của thuốc:

Do không có các nghiên cứu về tính tương kỵ của thuốc, không trộn lẫn thuốc này với các thuốc khác.

Tác dụng không mong muốn

Tác dụng phụ liên quan đến liều, cần dùng liều thấp nhất có tác dụng và trong thời gian ngắn nhất có thể.

Nguy cơ huyết khối tim mạch (xem thêm phần Cảnh báo và thận trọng)

Các phản ứng có hại được phân nhóm theo tần suất: Rất thường gặp (ADR ≥ 1/10), thường gặp (1/100 ≤ ADR < 1/10), ít gặp (1/1.000 ≤ ADR < 1/100), hiếm gặp (1/10.000 ≤ ADR < 1/1.000), rất hiếm gặp (ADR < 1/10.000); không thể ước lượng tần suất được liệt kê “Chưa rõ tần suất”.

Rối loạn máu và hệ bạch huyết:

“Sản phẩm này không phải là thuốc và không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh”

Chỉ định:

Điều trị triệu chứng giảm đau do thoái hóa khớp và viêm khớp dạng thấp.

Cách dùng, liều dùng:

Cách dùng:

Thuốc được uống trong bữa ăn hoặc sau khi ăn. Uống với nhiều nước. Thuốc được nuốt nguyên viên, không được nhai, bẻ, nghiền nát hòa vào nước trước khi uống.

Liều dùng:

Thận trọng cân nhắc các lợi ích tiềm ẩn và nguy cơ của nabumeton và các lựa chọn điều trị khác trước khi quyết định sử dụng nabumeton.

Sử dụng liều thấp nhất có hiệu quả trong thời gian ngắn nhất có thể phù hợp với mục tiêu điều trị của từng bệnh nhân. Liều dùng được điều chỉnh để đáp ứng yêu cầu của từng bệnh nhân.

Liều bắt đầu khuyến cáo là 1 liều duy nhất 1000 mg không quan tâm đến bữa ăn.

Trong trường hợp bệnh nhân cần liều cao hơn để có hiệu quả điều trị, liều dùng có thể từ 1500 mg đến 2000 mg/ngày, uống 1 lần duy nhất hoặc chia thành 2 lần/ngày.

Liều dùng cao hơn 2000 mg chưa được nghiên cứu.

Bệnh nhân có cân nặng < 50 kg: Không dùng liều quá 1000 mg.

Bệnh nhân suy thận:

+ Không cần điều chỉnh liều đối với bệnh nhân suy thận nhẹ (Clcr ≥ 50 ml/min).

+ Thận trọng khi dùng thuốc cho bệnh nhân suy thận vừa và nghiêm trọng. Liều bắt đầu đối với bệnh nhân suy thận vừa không được vượt quá 750 mg và suy thận nặng không quá 500 mg. Theo dõi chức năng thận của các bệnh nhân này, liều hàng ngày có thể tăng lên tối đa là 1500 mg và 1000 mg, lần lượt đối với từng đối tượng.

Người già:

Nói chung không có sự khác biệt giữa hiệu quả và an toàn ở nhóm đối tượng này so với nhóm trẻ hơn. Tuy nhiên, nồng độ thuốc trong máu thường cao hơn ở bệnh nhân cao tuổi (≥ 65 tuổi), không nên vượt quá liều khuyến cáo 1g/ngày ở nhóm đối tượng này. Trong một số trường hợp liều 500 mg có thể đạt hiệu quả.

Trẻ em:

An toàn và hiệu quả của nabumeton đối với trẻ em chưa được thiết lập.

Một số lưu ý đặc biệt về xử lý thuốc trước và sau khi sử dụng thuốc:

Không có yêu cầu đặc biệt về xử lý thuốc sau khi sử dụng.

Chống chỉ định:

Mẫn cảm với nabumeton hay bất cứ thành phần nào của thuốc.

Bệnh nhân nhạy cảm với aspirin và các thuốc kháng viêm không steroid khác: Bệnh nhân có dấu hiệu hen, polyp mũi, phù mạch hay nổi mề đay sau khi dùng aspirin và các thuốc kháng viêm không steroid khác.

Bệnh nhân loét dạ dày-tá tràng tiến triển.

Bệnh nhân suy gan nặng, suy tim nặng.

Không dùng ngay trước hoặc sau khi phẫu thuật bắc cầu động mạch vành (CABG).

Bệnh nhân suy thận nặng (Clcr < 30 ml/phút).

Trẻ em dưới 15 tuổi do chưa có nghiên cứu đầy đủ về dùng nabumeton cho trẻ em.

Bệnh nhân có tiền sử loét, chảy máu dạ dày.

Bệnh nhân có tiền sử chảy máu dạ dày do NSAID.

Phụ nữ có thai trong ba tháng cuối thai kỳ và phụ nữ cho con bú.

Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc:

Tác dụng không mong muốn có thể được giảm thiểu bằng cách sử dụng liều thấp nhất có hiệu quả trong thời gian ngắn nhất cần thiết để kiểm soát các triệu chứng.

Nên tránh sử dụng đồng thời nabumeton với các NSAID, bao gồm các chất ức chế chọn lọc cyclooxygenase-2.

Nguy cơ huyết khối tim mạch:

Các thuốc chống viêm không steroid (NSAID), không phải aspirin, dùng đường toàn thân, có thể làm tăng nguy cơ xuất hiện biến cố huyết khối tim mạch, bao gồm cả nhồi máu cơ tim và đột quỵ, có thể dẫn đến tử vong. Nguy cơ này có thể xuất hiện sớm trong vài tuần đầu dùng thuốc và có thể tăng lên theo thời gian dùng thuốc. Nguy cơ huyết khối tim mạch được ghi nhận chủ yếu ở liều cao.

Bác sỹ cần đánh giá định kỳ sự xuất hiện của các biến cố tim mạch, ngay cả khi bệnh nhân không có các triệu chứng tim mạch trước đó. Bệnh nhân cần được cảnh báo về các triệu chứng của biến cố tim mạch nghiêm trọng và cần thăm khám bác sỹ ngay khi xuất hiện các triệu chứng này.

Để giảm thiểu nguy cơ xuất hiện biến cố bất lợi, cần sử dụng nabumeton ở liều hàng ngày thấp nhất có hiệu quả trong thời gian ngắn nhất có thể.

Bệnh nhân tăng huyết áp không được kiểm soát, suy tim sung huyết, bệnh tim thiếu máu cục bộ, bệnh động mạch và/hoặc bệnh mạch não chỉ được điều trị với nabumeton sau khi xem xét cẩn thận. Cần thực hiện cân nhắc tương tự trước khi bắt đầu điều trị dài hạn đối với bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ mắc bệnh tim mạch (ví dụ tăng huyết áp, tăng lipid máu, đái tháo đường, hút thuốc lá).

Người cao tuổi:

Người cao tuổi có tần suất gặp phản ứng bất lợi với NSAID cao đặc biệt là xuất huyết hoặc thủng đường tiêu hóa có thể gây tử vong.

Rối loạn hô hấp:

Cần thận trọng khi dùng nabumeton cho bệnh nhân đang bị, hoặc có tiền sử trước đó, bệnh hen phế quản vì đã có báo cáo cho thấy các thuốc NSAID làm co thắt phế quản nặng hơn ở những bệnh nhân này.

Suy gan, thận tim mạch:

Việc sử dụng thuốc NSAID có thể làm giảm sự hình thành prostaglandin phụ thuộc liều và làm suy thận nặng thêm. Những bệnh nhân có nguy cơ cao nhất của phản ứng này là những người bị suy giảm chức năng thận, suy tim, rối loạn chức năng gan, những người đang dùng thuốc lợi tiểu và người cao tuổi. Ở những bệnh nhân suy thận nặng (độ thanh thải creatinin dưới 30 ml/phút), các xét nghiệm cần được thực hiện lúc bắt đầu và trong một vài tuần sau khi bắt đầu điều trị. Các xét nghiệm tiếp theo cần được tiến hành khi cần thiết; nếu sự suy giảm trở nên nặng hơn, phải ngưng điều trị. Trường hợp suy thận trung bình (độ thanh thải creatinin từ 30 đến 49 ml/lần) nồng độ 6 MNA không gắn kết với huyết tương tăng 50% và có thể cần phải giảm liều.

Cũng như các thuốc NSAID khác, đã có báo cáo về các xét nghiệm chức năng gan bất thường, các trường hợp vàng da và suy gan hiếm gặp (một số dẫn đến tử vong). Bệnh nhân có dấu hiệu/triệu chứng gợi ý tình trạng rối loạn chức năng gan hoặc những người đã có xét nghiệm chức năng gan bất thường trong khi điều trị với nabumeton nên được đánh giá về bằng chứng của phản ứng trên gan nghiêm trọng hơn. Ngưng sử dụng nabumeton nếu phản ứng xảy ra.

Xuất huyết, loét và thủng tiêu hóa:

Xuất huyết, loét hoặc thủng tiêu hóa, có thể gây tử vong, đã được báo cáo với tất cả các thuốc chống viêm không steroid và có thể xảy ra bất cứ lúc nào trong quá trình điều trị, có hoặc không có triệu chứng cảnh báo hoặc tiền sử biến cố tiêu hóa nghiêm trọng.

Bệnh nhân có tiền sử bệnh đường tiêu hóa, đường ruột, đặc biệt người cao tuổi, nên báo cáo bất kỳ triệu chứng vùng bụng bất thường nào (đặc biệt là xuất huyết đường tiêu hóa) đặc biệt trong những giai đoạn đầu điều trị.

Nguy cơ xuất huyết, loét hoặc thủng tiêu hóa cao hơn khi tăng liều thuốc kháng viêm không steroid, ở những bệnh nhân có tiền sử loét, đặc biệt nếu có biến chứng chảy máu hoặc thủng, và ở người cao tuổi. Những bệnh nhân này nên bắt đầu điều trị với liều thấp nhất sẵn có.

Liệu pháp phối hợp với các thuốc bảo vệ (ví dụ như misoprostol hoặc thuốc ức chế bơm proton) cần được xem xét đối với những bệnh nhân này, và cũng với các bệnh nhân cần dùng đồng thời aspirin liều thấp, hoặc các thuốc khác có thể làm tăng nguy cơ đường tiêu hóa.

Cần thận trọng khi dùng thuốc cho bệnh nhân đang dùng đồng thời thuốc có thể làm tăng nguy cơ loét hoặc xuất huyết, như các thuốc uống corticosteroid, thuốc chống đông máu như warfarin, các NSAID, các chất ức chế tái hấp thu serotonin chọn lọc hoặc các chất chống tiểu cầu như aspirin và clopidogrel. Khi xuất huyết tiêu hoá hoặc loét xảy ra ở bệnh nhân dùng nabumeton, phải ngưng điều trị.

Các NSAID có thể dùng thận trọng cho bệnh nhân có tiền sử bệnh tiêu hóa (viêm loét đại tràng, bệnh Crohn’s) vì các tình trạng này có thể nghiêm trọng hơn.

Đối với bệnh nhân bị loét dạ dày tiến triển, bác sỹ cần cân nhắc lợi ích của việc điều trị với nabumeton so với những nguy cơ có thể xảy ra, thiết lập chế độ điều trị loét phù hợp và theo dõi cẩn thận tiến triển của bệnh nhân.

Nabumeton được dung nạp tốt hơn hầu hết các NSAID khác, chủ yếu vì có ít tác động lên hệ tiêu hóa. Khi xem xét dữ liệu từ các thử nghiệm lâm sàng của nabumeton trước và sau khi đăng ký, tần suất tích lũy trung bình của thủng, loét hoặc chảy máu tiêu hóa (PUB) ở bệnh nhân được điều trị từ 3 đến 6 tháng, 1 năm và 2 năm lần lượt là 0,3%, 0,5% và 0,8%; mặc dù những con số này thấp hơn so với số liệu của các thuốc NSAID khác, bác sỹ kê toa cần biết rằng các ADR này có thể xảy ra ngay cả khi không có bệnh lý đường tiêu hóa trước đó.

Mặc dù nabumeton tương đối an toàn đối với đường tiêu hóa và thận, nên thận trọng khi dùng thuốc cho bệnh nhân có:

Loét đường tiêu hóa trên tiến triển. Điều trị phù hợp cần được thực hiện trước khi đều trị với nabumeton.

Hen suyễn, mày đay hoặc các phản ứng kiểu dị ứng trước đây do aspirin hoặc các thuốc NSAID khác gây ra. Bởi vì các cơn hen gây tử vong đã được báo cáo ở những bệnh nhân như vậy dùng các thuốc NSAID khác, lần đầu sử dụng nabumeton nên được y tế theo dõi.

Lupus ban đỏ hệ thống và bệnh mô liên kết hỗn hợp:

Đối với người có bệnh lupus ban đỏ hệ thống (SLE) và rối loạn mô liên kết hỗn hợp, có thể có nguy cơ tăng viêm màng não vô trùng.

Phản ứng trên da:

Các phản ứng da nghiêm trọng, một số rất hiếm trong đó gây tử vong, bao gồm viêm da tróc vảy, hội chứng Stevens-Johnson và hoại tử biểu bì nhiễm độc, đã được báo cáo khi kết hợp với việc sử dụng các NSAID. Bệnh nhân dường như có nguy cơ cao nhất đối với những phản ứng này trong thời gian mới điều trị; trong phần lớn các trường hợp, sự khởi phát của phản ứng xảy ra vào tháng điều trị đầu tiên. Nabumeton nên được ngưng sử dụng ở lần xuất hiện đầu tiên của ban da, tổn thương niêm mạc, hoặc bất kỳ dấu hiệu quá mẫn nào.

Suy giảm khả năng sinh sản ở nữ giới:

Việc sử dụng nabumeton hoặc các thuốc chống viêm không steroid khác có thể làm giảm khả năng sinh sản của phụ nữ và không được khuyến cáo ở phụ nữ cố gắng để thụ thai. Ở phụ nữ gặp khó khăn trong việc thụ thai hoặc người đang theo dõi tình trạng vô sinh, nên xem xét ngưng sử dụng nabumeton.

Các NSAID có thể che dấu bệnh nhiễm khuẩn.

Các trường hợp mờ mắt hoặc giảm thị lực được báo cáo với việc sử dụng NSAID, bao gồm nabumeton. Bệnh nhân có biểu hiện các bệnh lý này phải được gởi đi kiểm tra mắt.

Thuốc này có chứa phẩm màu sunset yellow lake có thể gây ra các phản ứng dị ứng. Cần thận trọng khi sử dụng thuốc cho bệnh nhân dị ứng với phẩm màu.

Sử dụng thuốc cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Thời kỳ có thai:

Không có kinh nghiệm lâm sàng trong việc sử dụng nabumeton trong thời kỳ mang thai ở người.

Thuốc không gây quái thai trong các thử nghiệm trên động vật. Ở thỏ, liều 300 mg/kg gây độc tính cho thỏ mẹ và phôi thai. Ở chuột, liều 320 mg/kg làm trì hoãn quá trình phân chia (do ức chế tổng hợp prostaglandin).

Đã có báo cáo về dị tật bẩm sinh do sử dụng NSAID ở người, tuy nhiên có tần suất thấp và không tuân theo mô hình rõ ràng nào. Do có nguy cơ đóng ống động mạch, biến đổi phổi và tim, nên NSAID chống chỉ định trong ba tháng cuối thai kỳ. Chuyển dạ có thể khởi phát chậm và kéo dài kèm theo khả năng chảy máu tăng cao. NSAID cũng không nên sử dụng trong tam cá nguyệt thứ nhất và thứ hai của thai kỳ trừ khi lợi ích cho người mẹ lớn hơn nguy cơ đối với thai nhi, nên điều trị với liều thấp và thời gian càng ngắn càng tốt.

Sự ức chế tổng hợp prostaglandin có thể ảnh hưởng xấu đến thai kỳ và/hoặc sự phát triển của phôi thai/thai nhi. Các nghiên cứu dịch tễ học cho thấy nguy cơ sảy thai, dị dạng tim và viêm dạ dày ở thai nhi tăng lên khi sử dụng chất ức chế tổng hợp prostaglandin trong giai đoạn đầu thai kỳ. Xác suất tuyệt đối cho nguy cơ dị tật tim tăng từ dưới 1% lên xấp xỉ 1,5%, tăng theo liều lượng và thời gian điều trị.

Trong ba tháng cuối của thai kỳ, các chất ức chế tổng hợp prostaglandin có thể khiến cho thai nhi bị:

– Độc tính tim-phổi: Đóng ống động mạch sớm và tăng huyết áp phổi.

– Rối loạn chức năng thận, có thể tiến triển suy thận kèm thiểu ối.

Bà mẹ và thai nhi vào cuối thai kỳ có thể bị:

– Kéo dài thời gian chảy máu do tác dụng chống kết tập mặc dù liều dùng rất thấp.

– Ức chế co thắt tử cung dẫn đến trì hoãn hoặc kéo dài quá trình chuyển dạ.

Phụ nữ có khả năng mang thai hoặc đang sử dụng các biện pháp tránh thai nên tham khảo ý kiến bác sỹ cẩn thận trước khi điều trị với thuốc này.

Thời kỳ cho con bú:

Không có kinh nghiệm lâm sàng trong việc sử dụng nabumeton trong thời kỳ cho con bú ở người.

Chất chuyển hóa có hoạt tính của nabumeton được tìm thấy trong sữa động vật cho con bú. Tính an toàn của nabumeton khi sử dụng trong thời gian cho con bú ở người chưa được biết rõ, do đó không nên sử dụng.

Cho đến nay, trong các nghiên cứu còn hạn chế, NSAID có thể xuất hiện trong sữa mẹ ở nồng độ rất thấp, do đó nếu có thể, không nên sử dụng NSAID trong thời kỳ cho con bú.

6MNA được tiết trong sữa của chuột cho con bú. Do nguy cơ xảy ra các phản ứng có hại nghiêm trọng ở trẻ bú mẹ, cần cân nhắc giữa việc ngừng cho con bú hay ngừng thuốc, phụ thuộc vào mức độ quan trọng của thuốc đối với người mẹ.

Ảnh hưởng của thuốc lên khả năng lái xe, vận hành máy móc:

Thuốc có thể gây chóng mặt, nhức đầu, ảo giác nên ảnh hưởng đến khả năng lái xe và vận hành máy móc.

Tương tác, tương kỵ của thuốc:

Tương tác của thuốc với các thuốc khác và các loại tương tác khác:

Các thuốc giảm đau khác bao gồm thuốc ức chế chọn lọc cyclooxygenase-2: Tránh sử dụng đồng thời hai hoặc nhiều hơn các NSAID (kể cả aspirin) vì có thể làm tăng nguy cơ tác dụng bất lợi.

Thuốc lợi tiểu và các thuốc hạ huyết áp khác như thuốc ức chế men chuyển angiotensin (ACEI) và các thuốc đối kháng thụ thể angiotensin (ARA) có thể giảm tác dụng khi dùng đồng thời với NSAID; ở một số người (như người già hoặc bị mất nước) điều này có thể làm giảm chức năng thận và cuối cùng là suy thận cấp. Do đó, cần phải bù nước và theo dõi thường xuyên các bệnh nhân này. Tình trạng tăng kali trong máu có thể nhiều hơn, đặc biệt khi sử dụng đồng thời các thuốc lợi tiểu giữ kali.

Các thuốc sau đây thường không có ảnh hưởng đến sự chuyển hóa và sinh khả dụng của nabumeton: Paracetamol, acetylsalicylic acid (ASA), cimetidin, các thuốc kháng acid có chứa hydroxyd nhôm.

Các glycosid tim: NSAID có thể làm suy tim trầm trọng thêm, giảm độ lọc cầu thận (GFR) và tăng nồng độ glycosid trong huyết tương.

Lithi: Giảm đào thải lithi.

Methotrexat: Giảm đào thải methotrexat.

Ciclosporin: Tăng nguy cơ độc tính trên thận.

Mifepriston: Không nên dùng NSAID trong khoảng 8 – 12 ngày sau khi dùng mifepriston vì các NSAID có thể làm giảm tác dụng của mifepriston.

Corticosteroid: Tăng nguy cơ loét và xuất huyết tiêu hóa.

Các thuốc kháng đông: Các NSAID có thể tăng cường tác dụng của thuốc kháng đông, như warfarin; cần thận trọng khi sử dụng đồng thời với nabumeton và các dấu hiệu quá liều phải được theo dõi.

Kháng sinh nhóm quinolon: Dữ liệu từ động vật cho thấy các NSAID có thể làm tăng nguy cơ co giật liên quan đến kháng sinh nhóm quinolon. Bệnh nhân dùng NSAID và quinolon có thể có tăng nguy cơ bị co giật.

Các thuốc kháng tiểu cầu và ức chế tái hấp thu chọn lọc serotonin (SSRI): Tăng nguy cơ xuất huyết tiêu hóa.

Tacrolimus: Có thể tăng nguy cơ độc tính trên thận khi dùng cùng lúc các NSAID và tacrolimus.

Zidovudin: Tăng nguy cơ độc tính huyết học khi dùng NSAID cùng lúc với zidovudin. Có bằng chứng về nguy cơ tăng tụ huyết khớp và khối tụ máu ở bệnh nhân bị bệnh huyết hữu có HIV (+) được điều trị đồng thời zidovudin và ibuprofen.

Sử dụng đồng thời nabumeton với các thuốc gắn kết với protein khác, ví dụ: Các sulphonamid, sulphylurea hoặc hydantoin phải được sử dụng thận trọng và cần theo dõi cẩn thận các dấu hiệu quá liều.

Không có nghiên cứu tương tác cụ thể nào giữa nabumeton và các thuốc trên được thực hiện. Vì vậy, cần thận trọng khi điều trị cùng lúc với các thuốc được liệt kê ở trên.

Tương kỵ của thuốc:

Do không có các nghiên cứu về tính tương kỵ của thuốc, không trộn lẫn thuốc này với các thuốc khác.

Tác dụng không mong muốn

Tác dụng phụ liên quan đến liều, cần dùng liều thấp nhất có tác dụng và trong thời gian ngắn nhất có thể.

Nguy cơ huyết khối tim mạch (xem thêm phần Cảnh báo và thận trọng)

Các phản ứng có hại được phân nhóm theo tần suất: Rất thường gặp (ADR ≥ 1/10), thường gặp (1/100 ≤ ADR < 1/10), ít gặp (1/1.000 ≤ ADR < 1/100), hiếm gặp (1/10.000 ≤ ADR < 1/1.000), rất hiếm gặp (ADR < 1/10.000); không thể ước lượng tần suất được liệt kê “Chưa rõ tần suất”.

Rối loạn máu và hệ bạch huyết:

Viết đánh giá của riêng bạn
  • chỉ có thành viên mới được trả lời
*
*
Xấu
Xuất sắc
  • chỉ có thành viên mới được trả lời
*
*
*